Ép cọc bê tông tại Vĩnh Phúc. Đóng cọc nào cho móng nhà? Vì sao móng nhà cần ép cọc bê tông? là câu hỏi được rất nhiều người quan tâm. Hầu như 100 người xây nhà thì có cả 100 người quan tâm đến vấn đề này.

Chất lượng công trình. Tuổi thọ công trình đã quyết định tại sao khách hàng không sử dụng dịch vụ ép cọc tre như ngày trước. Hiện nay hầu hết các hộ gia đình đều chọn ép cọc bê tông khi xây dựng.

 

Xã hội hiện đại, phát triển nhu cầu sống của con người càng được nâng cao, cải thiện hơn. Để đáp ứng được điều đó chất lượng sản phẩm. Dịch vụ cũng được quan tâm. Dịch vụ ép cọc bê tông cũng vậy trong khi trước kia dịch vụ ép cọc bê tông chỉ có ở những thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… và chỉ xuất hiện ở những công trình lớn như xây dựng nhà máy, Xây dựng khu chung cư, xây dựng biệt thự thì ngày nay dịch vụ ép cọc bê tông phát triển nhân rộng ra tất cả các tỉnh trên toàn quốc. Để đảm bảo tuổi thọ công trình.

 

                                                                                             Ép cọc bê tông tại Vĩnh Phúc

 

Dịch vụ ép cọc bê tông tại các tỉnh lân cận như:

  • Ép cọc bê tông tại Vĩnh Phúc
  • Ép cọc bê tông tại Hưng Yên
  • Ép cọc bê tông tại Hải Dương
  • Ép cọc bê tông tại Phú Thọ
  • Ép cọc bê tông tại Hòa Bình
  • Ép cọc bê tông tại Bắc Giang
  • Ép cọc bê tông tại Bắc Ninh……….

Công ty ép cọc bê tông tại Hà Nội chúng tôi nhận ép cọc bê tông tại Hà Nội và các tỉnh lân cận với chi phí hợp lý. Dich vụ trọn gói, thi công chuyên nghiệp. Đảm bảo tiến độ.

 

Tư vấn Biện pháp đóng cọc tre, cọc bê tông trong xây dựng

Cọc tre là gì?  Ép cọc tre tại Vĩnh Phúc
Ép cọc tre là loại cọc nêm, thường dùng cho nhà dân dụng ít tầng
Dùng loại tre tươi, già, loại tre đực, chọn đoạn gốc có đường kính 70-100, dài 1500-2500, chặt vát ở mũi cọc. Thông thường đóng 20-25 cọc/m2. Cọc tre phải đóng trong đất ẩm, dưới mực ngầm. Nếu nền đất khô, tre sẽ mau bị phá huỷ.
Cọc tre và cọc tràm là giải pháp công nghệ mang tính truyền thống để xử lý nền cho công trình có tải trọng nhỏ trên nền đất yếu. Đóng cọc tre là một phương pháp gia cố nền đất yếu hay dùng trong dân gian thường chỉ dùng dưới móng chịu tải trọng không lớn (móng nhà dân, móng dưới cống…). Miền Nam thường dùng cọc cừ tràm hay cọc tràm do nguyên liệu sẵn có. Cọc tràm và tre có chiều dài từ 3 – 6m được đóng để gia cường nền đất với mực đích làm tăng khả năng chịu tải và giảm độ lún.
Đóng cọc tre là để nâng cao độ chặt của đất, giảm hệ số rỗng dẫn đến nâng cao sức chịu tải của đất nền. Chỉ được đóng cọc tre trong đất ngập nước để tre không bị mục nát, nếu đóng trong đất khô không nước sau đó tre bị mục nát thì lại phản tác dụng làm nền đất yếu đi.

 


Không đóng cọc tre trong đất cát vì đất cát không giữ được nước, thường chỉ đóng cọc tre trong nền đất sét có nước Thông thường người ta đóng 16-25 cọc/m2 vì dễ chia (khoảng cách cọc 20-25 cm). Dày hơn nữa chắc không thể đóng được .
Hiện tại chưa thấy lý thuyết tính toán cụ thể nhưng ta có thể làm như sau: trong giai đoạn thiết kế giả sử sau khi đóng cọc tre đất nền đạt được độ chặt nào đó ( thông qua hệ số rỗng) từ đó tính được sức chịu tải đất nền lấy đó làm căn cứ thiết kế móng (hoặc có thể giả sử sức chịu tải đất nền sau khi đóng cọc). Nên dự tính sức chịu tải và độ lún của móng cọc tre hoặc cọc tràm bằng các phương pháp tính toán theo thông lệ.
Sau khi đóng cọc xong làm thí ngiệm lại để kiểm tra sức chịu tải của nền đất nếu không khác nhiều so với SCT giả thiết thì không cần sửa thiết kế (thực tế ít có thí nghiệm kiểm tra mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm).
1. Phạm vi áp dụng:
– Cọc tre được sử dụng để gia cố nền đất cho những công trình có tải trọng truyền xuống không lớn hoặc để gia cố cừ kè vách hố đào.
– Cọc tre được sử dụng ở những vùng đất luôn luôn ẩm ướt, ngập nước. Nếu cọc tre làm việc trong đất luôn ẩm ướt thì tuổi thọ sẽ khá cao (50-60 năm và lâu hơn: ông cha ta thường ngâm tre dưới bùn, khi vớt lên đen vàng óng nhưng chống được mối mọt, dùng làm mái nhà ngày xưa hoặc cột nhà tranh). Nếu cọc tre làm việc trong vùng đất khô ướt thất thường thì cọc rất nhanh chóng bị ải hoặc mục (lúc này lại gây nguy hại cho nền móng).
2. Yêu cầu của cọc:
– Tre làm cọc phải là tre già trên 2 năm tuổi, thẳng và tươi ,đường kính tối thiểu phải trên 6cm (thường từ 80-100mm), không cong vênh quá 1cm/ 1md cọc. Dùng tre đặc ( hay dân gian hay gọi là tre đực) là tốt nhất . Độ dày ống tre không nhỏ quá 10mm. Nếu tre rỗng thì độ dày tối thiểu của ống tre từ 10 – 15mm vì vậy khoảng trống trong ruột tre càng nhỏ càng tốt. Khoảng cách giữa các mắt tre không nên quá 40cm.
– Đầu trên của cọc (luôn lấy về phía gốc) được cưa vuông góc với trục cọc và cách mắt tre 50mm, đầu dưới được vát nhọn trong phạm vi 200mm và cách mắt 200mm để làm mũi cọc.
– Chiều dài mỗi cọc tre từ 2 – 3 m. Chiều dài cọc cắt dài hơn chiều dài thiết kế 20-30cm.
– Số lượng cọc trên 1 m2 được xác định theo công thức:
Đất yếu vừa có độ sệt IL = 0,55 ÷ 0,60 , cường độ chịu tải thiên nhiên R0=0,7 ÷ 0,9 kG/cm2 đóng 16 cọc cho 1m2.
Đất yếu có độ sệt IL = 0,7 ÷ 0,8 , cường độ chịu tải thiên nhiên R0=0,5 ÷ 0,7 kG/cm2 đóng 25 cọc cho 1m2.
Đất yếu quá có độ sệt IL > 0,80 , cường độ chịu tải thiên nhiên R0< 0,5 kG/cm2 đóng 36 cọc cho 1m2.
Theo 22TCN 262-2000 thì cọc tre đóng 25 cọc/1m2, cừ tràm 16cọc/1m2.
3. Phương pháp hạ cọc:
Hạ cọc bằng thủ công : Dùng vồ gỗ rắn loại có trọng lượng từ 8-10kg cho 1 người hoặc 2 người để đóng. Để tránh làm dập nát đầu cọc ta bịt đầu cọc bằng sắt. Cọc đóng xong phải cưa bỏ phần dập nát đầu cọc, nếu cọc chưa xuống sâu mà đầu cọc dập nát thì nhổ bỏ. Trường hợp nền đất yếu bùng nhùng mà khi đóng cọc bằng vồ cọc bị nẩy lên thì nên hạ cọc bằng phương pháp gia tải, kết hợp rung lắc. Đây là một công việc khó nhọc, tốn khá nhiều công sức và thời gian.
Hạ cọc bằng máy : Có thể dùng gầu máy đào để ép cọc nếu có thể. Ở một số nơi đã cải tiến búa máy phá bê tông bằng cách chụp thêm một mũ chụp để đóng cọc tre. Máy nén khí trường hợp này dùng loại có công suất nhỏ, áp lực khi nén khoảng bằng 4-8atm, một máy nén khí có thể dùng đồng thời cho 5-6 máy đóng cọc tre. Phương pháp này thi công nhanh, đỡ vất vả và có thể đóng cọc tre trong hố móng có dưới 20cm nước.
Sơ đồ hạ cọc: Nếu là khóm cọc hoặc ruộng cọc gia cố nền thì tiến hành đóng từ giữa ra. Nếu là dải cọc hoặc hàng cọc thì đóng theo hàng tuần tự. Đối với cọc cừ kè vách hố đào thì đóng từ hàng cọc xa mép hố đào nhất trở vào.
Tại Hà Nội, khi thi công cọc tre thường làm theo trình tự sau:
Đào đất
Đóng cọc tre
Rải một lớp vỏ bao hoặc nylon
Đặt cốt thép và đổ bê tông (dạng móng bè).
Kết quả: các nhà liền kề với nhau xây dựng và sử dụng nhưng không thấy nứt, nghiêng. Còn lún thì chắc cũng ít thôi. Như vậy việc đặt trực tiếp móng công trình lên đầu cọc tre cừ tràm chắc là tốt. Còn việc sử dụng vật liệu rời (cát, đá) thì có lẽ chỉ sử dụng được phần cường độ tăng thêm do tác dụng làm chặt đất của cọc tre cừ tràm thôi.

 


Biện pháp thi công đóng cọc tre gia cố
1. Phạm vi áp dụng:
Cọc tre được sử dụng để gia cố nền đất cho những công trình có tải trọng truyền xuống không lớn hoặc để gia cố cừ kè vách hố đào.
Cọc tre được sử dụng ở những vùng đất luôn luôn ẩm ướt, ngập nước. Nếu cọc tre làm việc trong đất luôn ẩm ướt thì tuổi thọ sẽ khá cao (50-60 năm và lâu hơn). Nếu cọc tre làm việc trong vùng đất khô ướt thất thường thì cọc rất nhanh bị mục nát.
2. Yêu cầu của cọc:
Tre làm cọc phải là tre già trên 2 năm tuổi, thẳng và tươi , không cong vênh quá 1cm/ 1md cọc. Dùng tre đặc (hay dân gian hay gọi là tre đực) là tốt nhất . Độ dày ống tre không nhỏ quá 10mm. Khoảng cách giữa các mắt tre không nên quá 40cm.
Đường kính cọc không nên nhỏ hơn 60mm. Chiều dài cọc : cắt dài hơn chiều dài thiết kế 20-30cm.
Đầu trên của cọc (luôn lấy về phía gốc) được cưa vuông góc với trục cọc và cách mắt tre 50mm, đầu dưới được vát nhọn trong phạm vi 200mm và cách mắt 200mm.
3. Phương pháp hạ cọc:
– Hạ cọc bằng thủ công: Dùng vồ gỗ rắn để đóng, để tránh dập nát đầu cọc phải dùng bịt đầu cọc bằng sắt. Cọc đóng xong phải cưa bỏ phần dập nát đầu cọc. Trường hợp nền đất yếu bùng nhùng mà khi đóng cọc bằng vồ cọc bị nẩy lên thì nên hạ cọc bằng phương pháp gia tải, kết hợp rung lắc.
– Hạ cọc bằng máy: Có thể dùng gầu máy đào để ép cọc nếu có thể.
– Sơ đồ hạ cọc : Nếu là khóm cọc hoặc ruộng cọc gia cố nền thì tiến hành đóng từ giữa ra. Nếu là dải cọc hoặc hàng cọc thì đóng theo hàng tuần tự. Đối với cọc cừ kè vách hố đào thì đóng từ hàng cọc xa mép hố đào nhất trở vào.
4. Gia cố nền móng:
– Cọc tre có thể đóng thủ công hoặc đóng bằng máy.
– Cọc tre chỉ thi công đợc tại những nơi có mực nớc ngầm cao, cọc tre đợc phải đợc đóng ngập xuống dới mực nớc ngầm để tránh mối, mọt … gây h hỏng cọc trong quá trình sử dụng.
– Cọc tre chỉ sử dụng tại những công trình có yêu cầu không lớn về tải trọng.
Trình tự đóng cọc tre:
– Cọc đóng theo quy tắc cái đinh ốc, đóng từ vòng ngoài vào trong, từ xa vào gần tim móng.
– Cọc lớn đóng trớc, cọc nhỏ đóng sau trong trong cùng một loại móng hoặc từng m2 móng băng.
– Cọc đóng xuống phải thẳng, không gẫy, dập, cong vênh.
Sau khi đóng xong toàn bộ, cần phủ lên đầu cọc 1 lớp cát vàng dày 10 cm rồi tiến hành đổ bê tông lót và thi công phần tiếp theo.
Định mức
Trong tập định mức có mã hiệu AC.11100 Đóng cọc tre để chiết tính đơn giá, lập dự toán. Tuy nhiên, đây là định mức đóng cọc tre bằng thủ công. Trường hợp đóng cọc tre bằng máy cải tiến chưa có định mức.

Ép cọc bê tông. Ép cọc bê tông tại Vĩnh Phúc

Tầm quan trọng ép cọc bê tông (ep coc be tong)
Để hoàn thiện một ngôi nhà thì công đoạn làm móng là 1 công việc quan trọng nhất và được làm đầu tiên. Có rất nhiều phương pháp để làm móng từ những phương pháp thủ công cho đến những phương pháp tiên tiến hiện đại hiện nay. Cho đến thời kỳ hiện đại ngày nay có 3 phương pháp làm móng chủ yếu được áp dụng.
Ép cọc bê tông khi làm móng nhà
1 – Phương pháp đổ bê tông móng: áp dụng cho những công trình đơn giản, thấp tầng. 2 – Đóng cọc, ép cọc: là phương pháp áp dụng nhiều nhất cho nhưng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp đặc biệt là các công trình nhà ở xây từ 3 tầng trở lên. 3 – Khoan cọc nhồi: áp dụng cho những tòa nhà lớn. So với các phương pháp khác phương pháp làm móng bằng ép cọc bê tông rất an toàn và rẻ, có thể ép cho công trình nhỏ, lớn đều được, có thể áp dụng được trên những địa bàn chật hẹp
Các phương pháp ép cọc bê tông
Có 3 phương pháp ép cọc bê tông chính sau: Ép neo: Áp dụng cho những công trình vừa và nhỏ, mặt bằng thi công chật hẹp cũng có thể làm được Ép tải : áp dụng cho những công trình vừa và lớn, mặt bằng thi công rộng rãi Ép cọc bằng máy ép robot: Áp dụng cho những công trình lớn, mặt bằng thi công rộng.
Máy ép cọc bê tông

Qui trình ép cọc bê tông
1. Một số định nghĩa
– Cọc ép là cọc được hạ bằng năng lượng tĩnh, không gây nên xung lượng lên đầu cọc. – Tải trọng thiết kế là giá trị tải trọng do Thiết kế dự tính tác dụng lên cọc.

 

2. Ưu nhược điểm của phương pháp thi công ép cọc
Những ưu điểm của phương pháp ép cọc bê tông:
Êm, không gây ra tiếng ồn, Không gây ra chấn động cho các công trình khác, Khả năng kiểm tra chất lượng tốt hơn: từng đoạn cọc được ép thử dưới lực ép và ta xác định được sức chịu tải của cọc qua lực ép cuối cùng, Thi công nhanh, gọn, biết được sơ bộ tải trọng khi ép cọc và giá thành không cao, khoảng 160.000 – 170.000đ/m cọc. Giá thành tổng thể, tùy vào số lượng cọc nhiều hay ít hoặc phải đóng sâu bao nhiêu.
Những nhược điểm của ép cọc bê tông:
Không thi công được ở những nơi đường chật hẹp, vướng đường dây điện giăng hoặc phải đi qua đường cống. Vì xe cẩu, thiết bị, vật tư có tải trọng nặng cả 100 tấn tải và độ cao. Thi công cọc ép cần phải có tài liệu địa chất tại nơi xây dựng để xác định chiều sâu chôn cọc.

3. Chuẩn bị mặt bằng thi công
– Phải tập kết cọc trước ngày ép từ 1 đến 2 ngày (cọc được mua từ các nhà máy sản xuất cọc) – Khu xếp cọc phải đặt ngoài khu vực ép cọc, đường đi vanạ chuyển cọc phải banừg phẳng, không gồ ghề lồi lõm – Cọc phải vạch sẵn trục để thuận tiện cho việc sử dụng máy kinh vĩ cân chỉnh – Cần loại bỏ những cọc không đủ chất lượng, không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật – Trước khi đem cọc đi ép đại trà, phải ép thí nghiệm 1 – 2% số lượng cọc – Phải có đầy đủ các báo cáo khảo sát địa chất công trình, kết quả xuyên tĩnh.
Bãi cọc bê tông
4. Vị trí ép cọc
– Vị trí ép cọc được xác định đúng theo bản vẽ thiết kế: phải đầy đủ khoảng cách, sự phân bố các cọc trong đài móng với điểm giao nhau giữa các trục. – Để cho việc định vị thuận lợi và chính xác, ta cần phải lấy 2 điểm móco nằm ngoài để kiểm tra các trục có thể bị mất trong quá trình thi công. Thực tế, vị trí các cọc được đánh dấu bằng các thanh thép dài từ 20 đến 30cm – Từ các giao điểm các đường tim cọc, ta xác định tâm của móng, từ đó ta xác định tâm các cọc.